Tác giả: marie

Chuẩn bị cho người điều hành chuyển sang hình thức hướng dẫn/dạy trực tuyến của Tổ chức Plan International-Jordani

Trong dự án này của tổ chức Plan International, những người điều hành phải nhanh chóng thay đổi chương trình và phương pháp tiếp cận của họ để phù hợp với việc học từ xa do ảnh hưởng bởi Covid-19.  Dự án hướng tới việc trang bị phương pháp tiếp cận mới cho khoảng 50 đến 60 nguời thuộc các chương trình giáo dục chính quy và phi chính quy, hiện đang đào tạo cho trẻ vị thành niên và thanh niên từ 12 đến 24 tuổi.

Để hỗ trợ những người điều hành này chuyển sang hình thức hướng dẫn người tham dự từ xa, tổ chức đã sử dụng phương pháp 3 giai đoạn, dựa trên các yếu tố trong thực tế:

  • Giai đoạn cấp bách: Hàng ngày, trao đổi chuyên sâu với người điều hành để hỗ trợ kịp thời bằng cách sử dụng Zoom và Teams để tập huấn đồng bộ và dùng ứng dụng WhatsApp cho cả tập huấn đồng bộ lẫn không đồng bộ.
  • Giai đoạn ít tập trung hơn: Là phương thức tổ chức ổn định hơn, trong đó những người điều hành gặp nhau 3 lần/tuần theo hình thức đồng bộ, cùng với việc chuyển hướng sang tự học thông qua các hướng dẫn và cẩm nang.
  • Giai đoạn kết hợp (trực tiếp/từ xa): những người điều hành gặp mặt trực tiếp mỗi tuần một lần, kết hợp với học tập theo hình thức không đồng bộ.

Trong 3 giai đoạn này, các chuyên gia giáo dục từ Plan International đã tạo nhóm trao đổi trên ứng dụng WhatsApp với những người điều hành để:

  • Sẵn sàng hỗ trợ những người điều hành trong quá trình chuyển sang hình thức từ xa.
  • Tạo cơ hội thảo luận để những người điều hành đặt câu hỏi về việc sử dụng các công cụ số.
  • Xây dựng mối quan hệ gần gũi và tạo động lực cho những người điều hành.
  • Cung cấp hỗ trợ cả đồng bộ và không đồng bộ để trợ giúp những người điều hành có kết nối Internet kém.

Công tác chuẩn bị cho đội ngũ người điều hành bằng mô hình SAMR của VSO

VSO điều hành các Trung tâm Giáo dục Mầm non (GDMN) trong các trại Rohingya ở Jamtoli, Cox’s Bazar từ năm 2018 và chương trình này đã được mở rộng sang các cộng đồng nước sở tại vào năm 2020.

Hầu hết các “giáo viên” mầm non đều là các người mẹ và người chị từ cộng đồng người Rohingya và các cộng đồng sở tại chưa tham gia khóa tập huấn nào. VSO đã phối hợp với MESHGUIDES để phát triển một khóa học nhằm thúc đẩy cách tiếp cận HTQC trong GDMN. Sau khi đánh giá trình độ học vấn của các giáo viên mầm non (GVMN) và khả năng tiếp cận các thiết bị kĩ thuật số cũng như kinh nghiệm sử dụng công nghệ của họ, VSO nhận thấy rằng không có ai đã từng có kinh nghiệm giảng dạy trước đó. Chỉ 10% trong số họ là có kinh nghiệm sử dụng các chức năng cơ bản của điện thoại di động.

Bên cạnh việc các GVMN không đủ tự tin áp dụng cách tiếp cận HTQC và cần rất nhiều hỗ trợ và đào tạo, khâu hậu cần cũng là một thách thức đối với các người điều hành và người hướng dẫn chuyên môn của VSO khi phải thường xuyên đến các trại để đào tạo trực tiếp cho những GVMN kể trên. Do đó, VSO đã cân nhắc giải pháp Edtech (công nghệ giáo dục). Tất cả các GVMN đều được tặng một máy tính bảng cài đặt sẵn các video bài hát, câu chuyện và bài dạy mẫu.

Nhờ áp dụng mô hình SAMR, VSO có thể điều chỉnh việc đào tạo giáo viên như sau:

  • Thay thế: Tài liệu hướng dẫn ở dạng tài liệu in dành cho giáo viên về cách tiếp cận HTQC trong GDMN được thay thế bằng phiên bản kĩ thuật số.
  • Tăng cường: Các tình nguyện viên trong nước đã sản xuất một loạt video hướng dẫn cách tạo đồ dùng, đồ chơi cho trẻ từ các vật liệu tái chế/tái sử dụng có sẵn tại địa phương bằng chính ngôn ngữ địa phương để giáo viên có thể xem video và làm theo hướng dẫn khi họ chuẩn bị đồ dùng đồ chơi cho các buổi học của trẻ.
  • Sửa đổi: Tham khảo video từ các quốc gia khác, các GVMN đã quyết định tìm các loại tre, nứa đã qua sử dụng, chai nhựa tái chế và vải vụn để làm đồ dùng đồ chơi.

Cách thức tổ chức Right To Play đánh giá kết quả dự án “Đối tác cùng chơi” (P3)

Mục tiêu của dự án Đối tác cùng Chơi (P3) là nâng cao chất lượng giáo dục cho trẻ em trai và trẻ em gái Ga-na ở độ tuổi 4-12 thông qua mô hình HTQC có thể mở rộng và nhân rộng.

Để đạt được điều này, việc nâng cao năng lực của ngành giáo dục Ga-na về việc tích hợp HTQC khi thực hiện chương trình giáo dục được coi là một bước quan trọng. Một hoạt động nâng cao năng lực trong chương trình này là khóa bồi dưỡng trực tuyến về “Đọc thông qua Chơi”, trong đó đối tượng thụ hưởng đầu tiên là các giáo viên tiểu học và trung học.

Hợp phần giám sát, đánh giá và học hỏi của khóa học này đã đánh giá chất lượng nội dung khóa học và việc tổ chức khóa bồi dưỡng trực tuyến. Điều này được thực hiện bằng cách đo lường sự cải thiện về kiến thức, thái độ và thực hành của người tham dự.

Nền tảng LMS được dùng để tổ chức khóa bồi dưỡng trực tuyến có một hệ thống báo cáo được tích hợp sẵn để theo dõi việc học và tiến bộ của từng cá nhân người tham dự. Đối với những khía cạnh mà LMS không thể đánh giá hành vi và thái độ của người dùng, mỗi người tham dự đều phải thực hiện một khảo sát trước và sau tập huấn, được tích hợp trực tiếp trong khóa bồi dưỡng trực tuyến.

Mô hình cán bộ hỗ trợ tâm lí BRAC

Mô hình cán bộ hỗ trợ tâm lí của BRAC là lộ trình giới thiệu gồm 4 cấp độ để đảm bảo hỗ trợ sức khỏe tâm thần cho những đối tượng thụ hưởng. Trong đại dịch Covid-19, mô hình đã chuyển sang hình thức kết hợp trực tiếp và trực tuyến. Việc tuyển dụng cán bộ hỗ trợ tâm lí, đào tạo, hội thảo, sát hạch kĩ năng, tài liệu hóa, hỗ trợ và giám sát định kì… đều được chuyển sang hình thức trực tuyến. Đồng thời, các dịch vụ tâm lí xã hội được cung cấp thông qua điện thoại có tính năng di động vì hầu hết các đối tượng thụ hưởng không có điện thoại thông minh.

Hình thức của quá trình đào tạo được xác định tùy thuộc vào nguồn lực sẵn có và/hoặc bối cảnh. Các cán bộ hỗ trợ tâm lí tham gia chương trình đào tạo kĩ năng cơ bản kéo dài 5 ngày. Sau khóa đào tạo, các cán bộ hỗ trợ tâm lí trải qua qui trình “cầm tay chỉ việc” trực tuyến kéo dài 1 tháng, trong đó họ học hỏi từ một cán bộ hỗ trợ tâm lí có nhiều thâm niên kinh nghiệm. Sau quá trình cầm tay chỉ việc này, cán bộ hỗ trợ tâm lí được đánh giá lần thứ nhất. Sau khi được đánh giá, cán bộ hỗ trợ tâm lí được phép làm việc với các đối tượng thụ hưởng và làm quen với các yêu cầu về công nghệ. Sau 3 tháng, lần đánh giá thứ hai được tiến hành, theo sau là các buổi tập huấn nhắc lại để củng cố kĩ năng của các cán bộ hỗ trợ tâm lí.

Đồng thời, các nhà tâm lí học tiến hành đào tạo và giám sát các cán bộ hỗ trợ tâm lí. Hình thức đào tạo kết hợp của qui trình phát triển kĩ năng cho các cán bộ hỗ trợ tâm lí đảm bảo rằng mô hình này có thể áp dụng linh hoạt tùy thuộc vào nguồn lực và bối cảnh. Chẳng hạn, các kênh phát triển kĩ năng hiệu quả thường được duy trì trực tuyến, nhưng khi cần, nhà tâm lí học phụ trách có thể trực tiếp giải quyết các thắc mắc hay vấn đề của cán bộ hỗ trợ tâm lí. Tất cả các công cụ đã qua kiểm chứng và sử dụng trong mô hình này (GHQ-12, PHQ-9, SDQ, KAP, Công cụ sàng lọc trẻ…) đều được hiệu chỉnh cho phù hợp với bối cảnh văn hóa của người Băng-la-đét và Rohingya trong việc sàng lọc và tiếp cận các vấn đề/nhu cầu cụ thể về sức khỏe tâm thần của người thụ hưởng. Ngoài ra, (các) công cụ đánh giá tuân thủ cũng được sử dụng để đánh giá năng lực của cán bộ hỗ trợ tâm lí về các kĩ năng của họ và mức độ thành thạo khi áp dụng các kĩ năng đó. Công tác giám sát định kì được đảm bảo bằng cách tải tất cả dữ liệu có liên quan lên một nền tảng an toàn và được mã hóa (TAROWORKS). Những dữ liệu này được bảo mật tuyệt đối. Công tác bảo mật dữ liệu cho phép các nhóm đối tượng khác nhau – gồm các nhà tâm lí học, nhóm giám sát & nghiên cứu và nhóm phần mềm có thể phối hợp mà vẫn tuân thủ các chính sách bảo vệ dữ liệu.

Cách thức VVOB Nam Phi duy trì động lực và sự tham gia trong lộ trình BDCMTX theo hình thức kết hợp

Dạy và học toán cơ bản thông qua chơi dành cho nhà giáo dục Lớp Mẫu giáo (gọi tắt là Giai đoạn cơ bản) là dự án thí điểm hướng đến 1.000 nhà giáo dục Giai đoạn Cơ bản thuộc 250 trường học trên địa bàn 4 huyện ở tỉnh KwaZulu Natal (Nam Phi).

Dự án do VVOB Nam Phi triển khai nhằm mục đích tăng cường thực hành dạy học trên lớp của các nhà giáo dục trong việc dạy toán giai đoạn cơ bản bằng cách tích hợp HTQC. Để đạt được điều này, dự án đã kiểm nghiệm tính hiệu quả của 2 hình thức BDCMTX (đồng bộ/kết hợp và không đồng bộ/từ xa) trong phát triển chuyên môn cho các nhà giáo dục.

Tâm điểm trong cách tiếp cận theo cả hình thức đồng bộ và không đồng bộ chính là xây dựng một cộng đồng học tập.

Các đặc trưng cốt lõi bao gồm:

Nền tảng học tập xã hội (SLP)

Kết quả đánh giá nhu cầu cho thấy khả năng tiếp cận học tập trực tuyến với các nhà giáo dục còn hạn chế. Quyết định được đưa ra là đưa nền tảng học tập xã hội vào LMS để khuyến khích các hoạt động tương tác liên quan đến nội dung giữa các nhà giáo dục nhằm nâng cao khả năng tiếp thu kiến thức, đồng thời liên hệ nội dung khóa học với thực hành trên lớp bằng cách áp dụng HTQC. Những nội dung về cộng đồng học tập chuyên môn (CĐHTCM) được tích hợp vào các mô-đun khóa học nhằm thúc đẩy và khích lệ học tập từ nhau thông qua nền tảng học tập xã hội.

Sự công nhận của đồng nghiệp và cộng đồng

Động lực trong khóa học và nền tảng học tập xã hội được thúc đẩy thông qua “Bảng thành tích”, nơi công nhận và vinh danh những nhà giáo dục tham gia một cách có ý nghĩa và chia sẻ tài nguyên cũng như kinh nghiệm thực tế. Huy hiệu và giấy chứng nhận hoàn thành đóng vai trò như một động lực.

Lời nhắc hàng tuần trên WhatsApp

Trong các buổi định hướng trực tiếp, các nhóm giáo viên địa phương được thành lập trên WhatsApp, với mục đích khuyến khích các nhà giáo dục tham gia khóa học và tương tác với những người cùng tham dự thông qua nền tảng học tập xã hội. Tất cả lời nhắc đều tập trung vào việc định hướng giáo viên đến nền tảng của khóa học.

Tiếp nhận và sử dụng bộ công cụ

Mỗi nhà giáo dục nhận được một bộ công cụ với các tài nguyên và học cụ cho lớp học. Để thúc đẩy họ sử dụng bộ công cụ, họ phải mở hộp công cụ và thực hiện một hoạt động phù hợp với nội dung và thực hành dạy học của học kì tiếp theo trong R-ATP (Kế hoạch giảng dạy phục hồi hàng năm). Giáo viên được khuyến khích sử dụng bộ công cụ để sáng tạo và tạo thêm tài nguyên cho bộ công cụ.

Các buổi suy ngẫm

Một buổi suy ngẫm trực tiếp đã được tổ chức với các nhóm nhà giáo dục ở các huyện. Các khía cạnh sau đây đã được đề cập trong buổi thu hoạch:

  • Hỏi – đáp về nội dung khóa học HTQC dựa trên dữ liệu từ các tương tác trực tuyến trên trang học tập xã hội và LMS.
  • Đánh giá xem các nhà giáo dục đã thành lập các CĐHTCM chưa và xác định thành phần của các CĐHTCM đó.
  • Tập huấn định hướng cho các thành viên tích cực trong CĐHTCM.
  • Trưng bày bộ công cụ và thực hiện một hoạt động phù hợp với R-ATP (Kế hoạch giảng dạy phục hồi hàng năm).

Đối với nhóm học không đồng bộ, các buổi suy ngẫm theo hình thức trực tuyến và việc sử dụng bộ công cụ trực tuyến được thực hiện sau khi bộ công cụ được giao tới họ.

Cách thức quỹ Aga Khan sử dụng mô hình cây quyết định để đánh giá khả năng tiếp cận công nghệ của người tham dự

Có nhiều yếu tố cần cân nhắc trong việc tiếp cận hình thức học trực tuyến. Một khía cạnh cốt lõi là khả năng tiếp cận của người học với các thiết bị và băng thông để xem các video hướng dẫn. Quỹ Aga Khan sử dụng mô hình “cây quyết định” đơn giản để đánh giá khả năng tiếp cận công nghệ phù hợp của người tham dự, từ đó xác định cách thức phổ biến nội dung học tập dựa trên video.

Mặc dù không được thể hiện trong mô hình “cây”, nhưng khả năng truy cập của người tham dự vào các loại thiết bị khác nhau có tác động nhiều đến cách thức tạo nội dung học tập. Chẳng hạn, dữ liệu từ Trung tâm học tập của Quỹ Aga Khan chứng minh rằng người học sử dụng thiết bị di động dành trung bình 5,5 phút để học, trong khi những người sử dụng máy tính để bàn và máy tính bảng dành 16 phút và 45 phút. Các nhà sản xuất nội dung học tập có thể sử dụng dữ liệu đó để đưa ra quyết định về các chiến lược phổ biến cũng như độ dài của nội dung học tập.

Ví dụ về phương pháp đào tạo giáo viên theo hình thức kết hợp cho phụ nữ ở vùng nông thôn Xi-ê-ra Lê-ôn của tổ chức Plan International và đại học Mở

Chương trình Hỗ trợ học tập ở Xi-ê-ra Lê-ôn xuất phát từ dự án GATE-GEC được Chính phủ Vương quốc Anh thông qua Sáng kiến Giáo dục cho Trẻ em gái của Bộ Ngoại giao và Phát triển  (FCDO).

Dự án GATE-GEC hỗ trợ trẻ em gái khó khăn và trẻ khuyết tật tại các trường tiểu học và THCS ở Xi-ê-ra Lê-ôn được đến trường, phát huy tối đa tiềm năng học tập của các em, học tập trong một môi trường an toàn và hòa nhập, đồng thời giúp các em chuyển tiếp thành công lên các bậc học cao hơn. Ở Xi-ê-ra Lê-ôn, chỉ có 27% giáo viên tiểu học và 14% giáo viên trung học là nữ; điều này có những hệ lụy trực tiếp đối với tỷ lệ nhập học, duy trì việc học tập và kết quả học tập của các trẻ em gái cũng như văn hóa học đường. Điều này cũng có những tác động lâu dài đến nguyện vọng, sự an toàn ở trường và triển vọng việc làm của các em gái.

Chương trình này được thiết kế để hỗ trợ những phụ nữ trẻ mà trước đây chưa hoàn thành bậc tiểu học đủ tiêu chuẩn trở thành giáo viên tiểu học thông qua quá trình bồi dưỡng chuyên môn. Chương trình được thực hiện với sự hợp tác của tổ chức Plan International, Đại học Mở, Ủy ban Sư phạm và các cơ sở đào tạo giáo viên ở Xi-ê-ra Lê-ôn. Dự án hiện đã có 483 người tham dự tốt nghiệp qua 2 đợt đào tạo; đợt thứ ba gồm 228 người tham dự đã được đào tạo và tham gia kỳ thi kiểm tra năng lực giáo viên của NCTVA vào cuối năm 2021. Người tham dự ban đầu làm vị trí “giảng” tại các trường học của địa phương mà họ đang sinh sống,vừa được sắp xếp một vị trí công việc thực tế vừa tham gia một chương trình đào tạo từ xa (gồm có môn Toán và tiếng Anh) có người hướng dẫn hỗ trợ. Sau đó, họ sẽ tham gia kỳ thi tuyển sinh vào các trường Cao đẳng Sư phạm (ITTC).

Bản thân mô hình này không phải là một ví dụ về BDCMTX theo hình thức kết hợp, mà là mô hình kết hợp trong đào tạo giáo viên ban đầu. Việc sắp xếp một vị trí công việc thực tế trong nhà trường được tiếp nối bằng một chương trình phát triển kĩ năng đọc viết và tính toán cơ bản. Sau khi vượt qua kỳ thi tuyển sinh vào ITTC, người tham dự bắt đầu tham gia mô hình đào tạo giáo viên theo hình thức từ xa. Mô hình này đòi hỏi kết hợp giữa hướng dẫn trực tiếp và hỗ trợ từ các cố vấn học tập của chương trình. Những người này sẽ đến gặp người tham dự trong giai đoạn họ làm việc tại trường, đảm bảo rằng họ được hỗ trợ phù hợp từ hiệu trưởng nhà trường và được tiếp cận những tài liệu đào tạo giáo viên phù hợp.

Tài liệu và phương tiện dành cho đào tạo từ xa bao gồm tài liệu in kết hợp với việc sử dụng công nghệ kĩ thuật số dưới dạng các mô-đun đào tạo giáo viên trên máy tính bảng. Máy tính bảng cho phép người tham dự truy cập nội dung số dưới dạng các mô-đun đào tạo giáo viên bao gồm kĩ năng đọc viết, tính toán, bảo vệ trẻ em và các phương pháp sư phạm hướng đến sự an toàn và hòa nhập… thông qua ứng dụng di động Moodle. Điều này giảm thiểu các sự cố kết nối Internet ở vùng nông thôn Xi-ê-ra Lê-ôn, trong đó nội dung được duy trì và cập nhật định kì khi người tham dự đến khu vực có kết nối và khi tham gia khóa đào tạo trực tiếp. Ngoài hình thức đào tạo từ xa và hướng dẫn tại trường, người tham dự cũng gặp mặt để tham gia các hoạt động đào tạo trực tiếp nhằm thúc đẩy những thực hành có tính suy ngẫm và giúp người tham dự hình thành các cộng đồng thực hiện trong khu vực.

Trong đại dịchCovid-19, chương trình được điều chỉnh bằng việc đội ngũ giáo viên mới đạt chuẩn trình độ tiếp tục được bồi dưỡng năng lực để hỗ trợ trẻ em gái dễ bị tổn thương và trẻ khuyết tật tại địa phương trong thời gian trường học đóng cửa, cung cấp các bài học tại nhà qua điện thoại và các hoạt động phúc lợi và bảo vệ trẻ em.

Để biết thêm thông tin, vui lòng truy cập:

https://www.open.ac.uk/about/international-development/projects-and-programmes/gec-sl-girls%E2%80%99-education-challenge-programme-sierra-leone

Cách thức VVOB Việt Nam tổ chức thử nghiệm nội dung và chương trình đào tạo để cải thiện lộ trình BDCMTX

Tại Việt Nam, VVOB hợp tác chặt chẽ với Bộ Giáo dục và Đào tạo để tăng cường các hình thức học tập kết hợp cho giáo viên cốt cán và cán bộ quản lý các trường tiểu học. Thông qua một lộ trình BDCMTX theo hình thức kết hợp có áp dụng các phương pháp HTQC, các cán bộ quản lí và giáo viên tạo ra những trải nghiệm học tập hứng khởi và đáp ứng nhu cầu, năng lực của học sinh.

Lộ trình BDCMTX theo hình thức kết hợp này bắt đầu bằng một khóa học về năng lực số để đảm bảo tất cả người tham dự đều có kiến thức, kĩ năng cần thiết về công nghệ số trong học tập. Khóa học được tổ chức theo hình thức trực tiếp và được thiết kế riêng cho lộ trình này phục vụ việc nâng cao năng lực số cho người tham dự và đáp ứng nội dung học tập đặc thù gắn với chương trình, chú trọng việc học tập trên Moodle vì đây là nền tảng học tập chính của khóa học. Khóa học được tổ chức trong 1,5 ngày.

Vì đây là khóa học được xây dựng mới hoàn toàn nên VVOB rất chú trọng trong khâu thử nghiệm và thí điểm trước khi triển khai đại trà. Việc thử nghiệm gồm hoạt động chạy thử toàn bộ khóa học với sự tham gia của tất cả giảng viên và các chuyên gia từ Bộ Giáo dục và Đào tạo và VVOB. Kết thúc hoạt động, tất cả người tham dự đã phản hồi về nội dung của khóa học, thiết kế các hoạt động học tập và phương pháp điều hành. 

Kết quả thử nghiệm cho thấy vẫn còn một số điểm cần cải thiện về cách tổ chức khóa học khi một lớp đào tạo có số lượng lớn người tham dự (70-100 người). Tất cả họ đều cần truy cập Wi-Fi và cần được hỗ trợ cá nhân. Do đó, quá trình thí điểm gồm 2 đợt đã được tiến hành với nhóm đối tượng là giáo viên ở một trong các tỉnh mục tiêu của dự án. Trong quá trình thí điểm, VVOB đã phân tích những thách thức về mặt tổ chức và tìm cách khắc phục những thách thức này. Sau đó, cán bộ của VVOB và những người tham dự và quan sát khóa học đã phản hồi về kết quả thí điểm và đưa ra những vấn đề cần được điều chỉnh. Trọng tâm của khâu thí điểm tập trung chủ yếu vào công tác tổ chức khóa học, song những thông tin phản hồi về nội dung, phương pháp điều hành và kết quả mong đợi từ khóa học cũng được thảo luận. 

Cả khâu thử nghiệm và khâu thí điểm đều đã góp phần giúp khóa học hiệu quả hơn. Tuy nhiên, sau đó, VVOB vẫn duy trì cách tiếp cận “thử nghiệm nhiều lần” trong toàn bộ chu trình của khóa học và tiếp tục tổ chức các buổi phản hồi với các giảng viên sau mỗi đợt đào tạo để đảm bảo chất lượng tốt nhất cho mỗi hoạt động đào tạo.

  • 1
  • 2